Trong suốt 4000 năm lịch sử, mảnh đất hình chữ S đã sản sinh ra rất nhiều những nhân tài, vĩ nhân làm rạng danh non sông Việt Nam trên bản đồ thế giới. Nước ta từng tồn tại một thời kỳ “Tam Quốc” như Trung Hoa và tại thời điểm đó cũng xuất hiện một bậc cao nhân không thua kém gì Khổng Minh – Gia Cát Lượng.
Nói đến đây, nhiều bạn cũng có thể được nhận ra nhân vật mà bài viết hôm nay muốn nhắc đến chính là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bạn hãy cùng mình lội dòng lịch sử để trở về nhà Hậu Lê (1428 – 1789), nơi có 3 thế lực Lê – Mạc – Nguyễn cùng nhau tranh thiện hạ để xem tài năng xuất chúng của Nguyễn Bỉnh Khiêm như thế nào mà được người đời xưng tụng là Trạng Trình?
Nguyễn Bỉnh Khiêm là ai?
Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên huý là Văn Đạt, tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân am cư sĩ, sau này còn được các môn sinh tôn là Tuyết Giang phu tử. Ông sinh ngày 6/4/1491 âm lịch tại làng Trung An, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) dưới thời vua Lê Thánh Tông – thời kỳ thịnh trị nhất của nhà Lê sơ.
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra trong gia đình có bố mẹ nổi tiếng học rộng. Mẹ ông là con út của quan tiến sĩ thượng thư bộ Hộ triều vua Lê Thánh Tông. Nhờ vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm được giáo dục cẩn thận, rèn luyện cả về thể lực và trí lực nên. Sử sách mô tả ông “to khỏe, thông minh khác thường, chưa đến một tuổi đã nói sõi”.
Lên 4 tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm được mẹ dạy sách Kinh, thơ Nôm… Đến tuổi trưởng thành, sau khi nghe danh bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều (thuộc huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa ngày nay) – một người nổi tiếng trong giới sĩ phu đương thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đến tận nơi để tầm sư học đạo.
Nhờ thông minh từ nhỏ cùng với việc chăm chỉ học hành, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhanh chóng trở thành học trò xuất sắc của Lương Đắc Bằng và được chính thầy phó thác con trai cho nuôi dạy.
Sau khi chết (28 tháng 11 năm 1585), ông còn để lại cho hậu thế vô vàng những tác phẩm văn chương. Đặc biệt là gần 500 câu sấm truyền những sự việc xảy ra tận 500 năm sau. Người đời gọi đó là “sấm trạng Trình”.

Những lần tiên tri làm thay đổi cục diện đất nước của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Đầu thế kỷ 16, nhà Hậu Lê bước đến giai đoạn suy thoái. Một võ tướng nhà Lê là Mạc Đăng Dung đứng ra trấn áp các cuộc nổi dậy bên ngoài và đồng thời đoạt lấy quyền hành triều Lê. Các lực lượng chống đối cũng bị ông nhanh chóng dẹp loạn. Đến năm 1527, Mạc Đăng Dung phế truất Lê Cung Hoàng để lập ra nhà Mạc.
Năm 1545, Nguyễn Kim – một võ tướng cũ của nhà Lê lập Lê Duy Ninh lên làm vua ở đất Sầm Châu (Ai Lao) lấy hiệu là Lê Trang Tông. Từ khi Trang Tông lên ngôi, nhiều sĩ phu và tướng lĩnh bắt đầu tập hợp với Nguyễn Kim để chống nhà Mạc.
Sau nhiều lần tổ chức tấn công không thành, tới năm 1539, Nguyễn Kim chiếm được huyện Lôi Dương ở Thanh Hóa, một năm sau đó tiến vào Nghệ An. Nhà Hậu Lê dần xác lập chỗ đứng trở lại trên lãnh thổ Đại Việt. Tuy nhiên, một bước ngoặt mới được bắt đầu khi Nguyễn Kim bị hàng tướng Dương Chấp Nhất đầu độc giết chết. Con rể của Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm lên thay quyền chỉ huy quân đội. Bối cảnh lúc này khá giống với trường hợp của Tào Tháo thời Tam Quốc, Trịnh Kiểm cũng mượn danh thiên tử để hiệu triệu thiên hạ.
Năm 1556, vua Trung Tông mất không có con nối dõi. Trịnh Kiểm dựa vào binh quyền lớn muốn thay nhà Lê làm vua nhưng vẫn còn ngại những lời dị nghị nên rất đắn đo suy nghĩ. Đúng lúc này lại xuất hiện một nhân vật được thiên hạ truyền nhau là có thể “ngồi trong màn tính được chuyện ngàn dặm”, đó chính là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trịnh Kiểm không bỏ qua cơ hội thỉnh ý cao nhân nên đã bí mật sai người đến nhờ Trạng Trình cho lời khuyên.
Khi đến nơi, người của Trịnh Kiểm chỉ kịp nhìn thấy chú tiểu đang quét lá ngoài ngoài sân và chưa kịp nói gì thì cụ Trạng Trình nói vọng từ trong ra:
“Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản”
(ý của câu này là làm bề tôi của vua Lê thì lợi hơn),
Sau đó, chú tiểu nói: “Ông có thể về được rồi đấy“.
Người hầu của Trịnh Kiểm cũng hiểu ý nên lập tức về tâu lại.
Nghe xong, Trịnh Kiểm vô cùng thán phục, gật gù một lúc, rồi bèn sai người đến thôn Bố Vệ rước hậu duệ của ông Lê Trừ (anh Lê Lợi) là Duy Bang lên làm vua, tức là vua Lê Anh Tông.
Họ Trịnh mượn tiếng phò nhà Lê nhưng nắm thực quyền điều hành chính sự, còn nhà Lê nhờ họ Trịnh chống đỡ cho mọi vấn đề chính sự. Hai bên cứ như vậy nương tựa lẫn nhau tồn tại tới hơn 200 năm. Bởi thế, người đời còn có câu:“Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong”.
Trong thời gian Trịnh Kiểm mới lên nắm quyền, con trai thứ của Kim là Nguyễn Hoàng (tước Hạ Khê hầu) thấy anh cả mình là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm trừ khử nên rất lo sợ. Mặc khác, trịnh Kiểm thấy Nguyễn Hoàng lập được nhiều chiến công trong các cuộc chinh phạt nhà Mạc, còn được phong tước Đoan quận công, công danh đang ngày càng lên cao nên bắt đầu nảy sinh ghen ghét và tính chuyện loại trừ ông.
Nguyễn Hoàng cũng nhận ra điều đó nên ông bàn mưu với Nguyễn Ư Dĩ, rồi cáo bệnh để Trịnh Kiểm khỏi nghi ngờ. Nguyễn Hoàng nghe tiếng Nguyễn Bỉnh Khiêm (người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái bảo về trí sĩ) giỏi nghề thuật số, nên ngầm sai người tới hỏi để tìm hướng đi sau này.
Khi đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn núi non bộ trước sân rồi ngâm lớn rằng:
“Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”,
(tạm dịch: Một dải núi Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời).

Khi được thuật lại, Nguyễn Hoàng hiểu ý, vô cùng khâm phục Trạng Trình vì khả năng nhìn xa trông rộng. Ông lập tức nhờ chị ruột mình là bà Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin anh rể cho vào trấn thủ ở Thuận Hoá (tức khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên – Huế ngày nay). Từ đó, Nguyễn Hoàng lập được nghiệp lớn. Ông còn được gọi là Chúa Tiên, hay Nguyễn Thái Tổ, vị lãnh đạo đầu tiên của vương triều nhà Nguyễn.
Tháng 10 năm 1580, Mạc Kính Điển mất, em là Mạc Đôn Nhượng phụ chính cho Mạc Mậu Hợp. Lực lượng quân đội nhà Mạc bắt đầu suy yếu vì thiếu đi người chỉ huy có tầm cỡ và uy tín. Mạc Mậu Hợp lên ngôi khi còn nhỏ nhưng đến lúc lớn vẫn dựa vào các hoàng thân phụ chính, không quan tâm việc chính sự. Uy thế quân Mạc giảm đi rất nhiều và thường bị thua trận.
Đầu năm 1592, Trịnh Tùng (con Trịnh Kiểm) đưa quân tổng tiến công ra bắc, quân Mạc đại bại. Cuối năm 1592, Trịnh Tùng một lần nữa tiến đánh Thăng Long. Cha con Mạc Mậu Hợp và Mạc Toàn thua trận rồi lần lượt bị bắt và bị hành hình. Bắc triều từ đó chấm dứt. Nhà Hậu Lê chiếm lại được Thăng Long. Công cuộc trung hưng nhà Hậu Lê coi như hoàn tất.
Cùng lúc đó, nhà Mạc lâm vào cảnh khốn cùng, nhớ tới cụ Trạng Trình (trước từng làm quan dưới triều nhà Mạc) nên bèn sai người đến nhờ cụ chỉ đường dẫn lối, tránh họa diệt vong.
Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên hoàng thất nhà Mạc:
“Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thể”
(tức Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng có thể giữ được).
Nhà Mạc nghe theo lời ông nên giữ được đất Cao Bằng thêm gần 80 năm nữa.

Tài năng có thể sánh ngang với Gia Cát Khổng Minh
Như vậy, với 3 lời khuyên của mình dành cho Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng và họ Mạc, Trạng Trình đã giải được mối đe dọa diệt vong cho cả 3 thế lực này, đồng thời tạo ra được sự hoà bình cho Việt Nam lúc bấy giờ. Cũng có thể nói Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đặt nền móng cho sự khai sáng của triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam – Triều Nguyễn.
Nguyễn Bỉnh khiêm rất giống với Gia Cát Lượng. Ngọa Long xuất sơn đã tạo nên cục diện “chân vạc” thời Tam Quốc. Trước khi ông theo phò tá Lưu Bị, Trung Hoa là một mớ hỗn độn khi thái giám và Đổng Trác hoành hành, cùng với đó là sự tranh chấp của Tào Tháo với Viên Thiệu. Từ lần sang Đông Ngô thuyết khách đến chiến thắng trong trận Xích Bích nổi tiếng, 3 nước Ngụy – Thục – Ngô dần hình thành và sau khi Lưu Bị chiếm Tứ Xuyên lên ngôi Hoàng Đế, cục diện này mới chính thức rõ rệt.
Không nói là một tay Gia Cát Lượng có thể tạo ra thời Tam Quốc, đó còn là sự đóng góp của rất nhiều các nhân vật nổi tiếng khác, nhưng ngay từ khi còn trong ‘lều tranh’, gặp Lưu Bị, ông đã nói rõ sau này thiên hạ sẽ chia ba. Việc ông xuất sơn có nhiệm vụ chủ yếu là thúc đẩy bánh xe lịch sử đi đúng hướng của nó, hoàn thành vai diễn của mình.
Nếu ví Trịnh Kiểm như Tào Tháo, nhà Hậu Lê như Đông Hán, coi nhà Mạc như Đông Ngô và chúa Nguyễn Hoàng như Lưu Bị, ta sẽ thấy một nét tương đồng rõ rệt. Nguyễn Hoàng từ một viên quan lại của nhà Lê trở thành “Hoàng đế” rất giống với Lưu Bị từ anh thôn phu ‘bán giày’ đến vua của một nước.

Một điểm tương đồng lớn giữa Nguyễn Bỉnh Khiêm và Gia Cát Lượng đó chính là cả 2 đều là người “tu Đạo”. Nếu Gia Cát Lượng nhờ tu Đạo từ bé để có khả năng trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, giữa hiểu lòng người, ngồi trong lều cỏ biết chuyện thiên hạ, thì cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nhờ một lòng tu Đạo, chiêm nghiệm Thái Ất Thần Kinh của Lương Đắc Bằng mà có thể biết được tất cả thiên thời tại Việt Nam, từ đó mà đưa ra những phán đoán vô cùng chính xác khiến hậu thế ngả mũ thán phục.
Chưa hết, cả hai còn để lại cho ngàn năm sau những điều phi thường. Gia Cát Lượng có cuốn tiên tri nổi tiếng “Mã Tiền Khóa” thì Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có “sấm Trạng Trình”.
Việt Nam khởi tổ xây nền….
Trước thế kỷ 19 (trước khi nhà Nguyễn được thành lập), Nguyễn Bỉnh Khiêm vô cùng nổi bật trong số các tác gia thời trung đại của Việt Nam khi có mối liên hệ mật thiết nhất với hai chữ “Việt Nam” thông qua các tác phẩm của ông hoặc có liên quan trực tiếp với ông. Nguyễn Phúc Giác Hải (Trung tâm nghiên cứu Tiềm năng con người thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam khẳng định điều này.
Dù chưa có những bằng chứng xác thực Nguyễn Bỉnh Khiêm có phải là người đầu tiên sử dụng danh xưng Việt Nam với tư cách là quốc hiệu của dân tộc hay không nhưng nhiều nhà nghiên cứu hiện nay cũng đồng quan điểm với ông Nguyễn Phúc Giác Hải khi cho rằng Trạng Trình rất có khả năng là người đầu tiên sử dụng danh xưng Việt Nam một cách có ý thức nhất để gọi tên của đất nước.
Trong các tác phẩm liên quan đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, có ít nhất 4 lần danh xưng Việt Nam đã được sử dụng một cách có chủ ý. Điều này đồng thời cũng góp phần bác bỏ quan điểm cho rằng hai chữ Việt Nam chỉ được Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng ngẫu nhiên hay tùy hứng. Kho lưu trữ của Viện Nghiên cứu Hán-Nôm hiện nay vẫn còn lưu giữ nhiều tài liệu cổ (chép tay) về Nguyễn Bỉnh Khiêm có sử dụng danh xưng Việt Nam như một quốc hiệu tiền định.

Ngay trong phần đầu của tập Sấm ký có tựa đề Trình tiên sinh quốc ngữ, tên gọi Việt Nam đã được nhắc đến qua câu: “Việt Nam khởi tổ xây nền”. Danh xưng Việt Nam còn được sử dụng một lần nữa trong bài thơ chữ Hán của ông với tựa đề Việt Nam sơn hà hải động thưởng vịnh (Vịnh về non sông đất nước Việt Nam). Ngoài ra còn có hai bài thơ mà Trạng Trình gửi hai người bạn thân (hai Trạng nguyên của triều Mạc) cho thấy tên gọi Việt Nam được dùng như một cách chủ ý.
Trong bài thứ nhất gửi Trạng nguyên/Thư Quốc công Nguyễn Thiến, hai câu cuối Nguyễn Bỉnh Khiêm viết: Tiền trình vĩ đại quân tu ký/Thùy thị phương danh trọng Việt Nam (Tiền đề rộng lớn ông nên ghi nhớ, Ai sẽ là kẻ có tiếng thơm được coi trọng ở Việt Nam?). Bài thứ hai gửi Trạng nguyên/Tô Khê hầu Giáp Hải, hai câu cuối Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng viết: Tuệ tinh cộng ngưỡng quang mang tại/Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam (Cùng ngửa trông ngôi sao sáng trên bầu trời, Trước sau soi ánh sáng rực rỡ vào nước Việt Nam). Các bài thơ trên còn được ghi chép trong tập thơ chữ Hán của ông là Bạch Vân am thi tập.
Kết luận
Tóm lại, Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhân vật kiệt xuất, người có đóng góp to lớn cho dân tộc Việt Nam. Ngày nay, có nhiều con đường và trường học mang tên ông nhằm tôn vinh vĩ nhân lịch sử này. Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện đang tọa lạc tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Đây là nơi để tri ân những đóng góp của Trạng Trình cũng như điểm tụ họp nổi tiếng cho các hoạt động văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng trên khắp đất nước.

